11:19 PM 21-11-2014
  • Chọn mã chứng khoán cần theo dõi
Thêm quan tâm
HOSE 497.88 3.07 (0,62% ) HNX 60.778915 0.045542 (0,07% ) UPCOM 40.448945 -0.225211 (-0,55% )
GTGD: 588,61 tỷ GTGD: 135,52 tỷ GTGD: 1,02 tỷ

Kinh Tế

Thực trạng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam

Thứ Ba, 27/01/2009, 16:10 RSS Gửi email In tin Bình luận
Trong những năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan trọng góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức nhưng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn có bước tăng trương rất khả quan. Hết năm 2008 ghi nhận mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng kỉ lục với hơn 64 tỷ USD vốn đăng kí và 11 tỷ USD vốn đã giải ngân . Đây là thành tích ấn tượng của Việt Nam trong năm 2008, tuy nhiên thực trạng và triển vọng của nguồn vốn FDI vẫn là một vấn đề đáng bàn.

 

Nhìn chung đầu tư trc tiếp nước ngoài (FDI) ít ri ro hơn các ng vốn đu tư gián tiếp như vốn vay nước ngoài và đầu tư chng khoán do đặc thù của nó là tính linh động không cao. Trong năm 2008  Việt Nam đã nhận được làn sóng các cam kết FDI ở mức kỉ lục cao nhất trong nhiều năm gần đây. Điều này giúp cho Việt nam cân bằng khoản thâm hụt tài khoản vãng lai đã tăng đột biến trong năm nay, thúc đẩy tăng trưởng và tạo thêm nhiều việc làm mới. Tuy nhiên thực trạng nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam không chỉ toàn màu hồng.

 

Nếu khảo sát kĩ hơn con số  64 tỷ USD vốn FDI đăng ký cấp mới năm 2008, số vốn điều lệ của các dự án chỉ là  15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%. Như vậy phần vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài dự định phải đi vay để tài trợ cho các dự án của mình chắc chắn sẽ là rất lớn. Điều này nẩy sinh một mối quan ngại là sẽ có những dự án mà nhà đầu tư chỉ đăng kí và xin giấy phép cũng như cấp đất sau đó sẽ vay vốn của các tổ chức tài chính Việt Nam để thực hiện dự án. Nếu nhà đầu tư sau đó lẩn tránh hoặc không đủ “lực” thực hiện dự án, thì  hậu quả để lại cho các ngân hàng là rất nặng nề.

 

Quan sát cơ cấu FDI trong năm 2008 chúng ta thấy nguồn vốn này tập trung rất lớn vào lĩnh vực bất động sn và đi vào nhng d án ln (vi quy mô trên 1 t USD). Citibank ước nh vốn  FDI  liên  quan đến các dự án bất đng  sn  hin  nay  chiếm  ñến  1/4  tng  vốn  giải  ngân.  Tuy nhiên thtrưng bất động sản là một thị trường nhậy cảm và hay biến động theo chu k, cho nên bất động sản hay đi vào các chu kì tăng nóng rồi giảm mạnh (cuối năm 2007 và năm 2008 điều này đã xảy ra). Cùng với sự đóng băng trên thị trường bất động sản được dự đoán trong năm 2009 chắc chắn nguồn vốn FDI đổ vào lĩnh vực này sẽ giảm ảnh hưởng đến tổng nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009. Thc tế rng làn sóng nguồn vốn FDI năm nay chủ yếu là do vic cấp phép cho mt s d án đại qui mô. Ghi nhận trong 7 tháng đầu năm 2008, có 8 d án chiếm đến 75% tng nguồn vốn FDI được đăng ký. Trong đó có tới sáu dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động sản có quy mô rất lớn đó là: d án phát trin khu đô thị mới ca Brunei Phú Yên, mt khu phc hp dân và đại hc ca Malaysia TP.HCM, hai khu ngh mát ln Ra - Vũng Tàu và mt  khu  ngh  mát Kiên Giang. Thc tế là nguồn vốn FDI được giải ngân của Việt Nam trong năm 2009 phụ thuộc rất nhiều vào việc thực thi các dự án này. Tuy nhiên thực tiễn trong thời gian qua v tiến trình giải ngân ca các nhà đầu tư bất động sn ln Việt Nam và các nơi khác trong khu vc cho thy việc coi toàn  b  s  vốn  này  s  được trin  khai  là  quá  lạc  quan. Bên cạnh đó, với thực trạng của nền kinh tế toàn cầu hiện nay thì khả năng các dự án trên bị đình hoãn hoặc giảm bớt quy mô đầu tư là hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó Việt Nam không thể chắc chn rng khi các d án có được trin khai  thì có  thc s phải  giải ngân nguồn vốn FDI  quy mô  ln  như  thế hay không.

 

Hơn na, bất động sn là một lĩnh vực không trc tiếp to ra hàng xuất khu vốn là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm gần đây, mặc các khu ngh mát và khách sn s mang thu hút được du khách nước ngoài đến Việt Nam và mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể tuy nhiên điều này đòi hỏi Việt Nam phải có một chiến lược lâu dài và đồng bộ liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác. Ngoài ra lĩnh vực bất động sản không phải là lĩnh vực tạo ra nhiều việc làm mới điều mà Việt Nam đang rất cần thiết hiện nay khi năm 2009 phải tạo ra 1,7 triệu việc làm mới theo nghị quyết của quốc hội  nhằm đảm bảo an sinh xã hội. Một điều thực sự đáng lo ngại là trong 8 tháng đầu năm 2008,  FDI  đầu  tư  vào ngành  chế  biến thc phẩm và  công  nghip nh, hai ngành cung cấp rất nhiu việc làm cũng như to tim năng phát trin cho các ngành công nghip phụ trợ, ch đạt tổng cộng 2 t USD, so với  2,7 t USD trong năm 2007.

 

Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.

 


Theo Hoàng Công Tuấn- Sanotc.com

facebook Hot! F319
Tìm tin theo ngày