10:22 PM 22-10-2014
  • Chọn mã chứng khoán cần theo dõi
Thêm quan tâm
HOSE 497.88 3.07 (0,62% ) HNX 60.778915 0.045542 (0,07% ) UPCOM 40.448945 -0.225211 (-0,55% )
GTGD: 588,61 tỷ GTGD: 135,52 tỷ GTGD: 1,02 tỷ

Kinh Tế

Thị trường chứng khoán Việt Nam và những tác động từ bên ngoài

Thứ Tư, 11/08/2010, 08:08 RSS Gửi email In tin
Ông Phạm Quang Huy – Chủ tịch Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Dầu khí (PSI)
Chiều ngày 10/08/2010, tại khách sạn Hilton, CTCP Chứng khoán Dầu khí (PSI) đã tổ chức hội thảo “Tình hình kinh tế thế giới và các tác động đến Việt Nam”, với mục tiêu giúp nhà đầu tư nắm bắt một cách khách quan và tổng quát hơn về tình hình kinh tế trong nước và quốc tế, những nguy cơ cũng như triển vọng trong tương lai, dự báo về TTCK thế giới, Châu á cũng như TTCK Việt Nam, trong những năm hậu khủng hoảng.
Tham dự hội thảo có đồng chí Nguyễn Tiến Dũng – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; ông Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương; các chuyên gia cao cấp đến từ những Ngân hàng Đầu tư hàng đầu Thế Giới; đại diện các Quỹ đầu tư và Công ty Chứng khoán; cùng đông đảo nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.




        Từ năm 2000 đến nay, kinh tế thế giới luôn trải qua nhiều biến động. Bắt đầu từ sự phá sản của WorldCom năm 2003, Mardoff với vụ lừa đảo lịch sử 65 tỷ USD năm 2005, và lớn nhất là khủng hoảng tín dụng Mỹ năm 2007, kéo theo sự sụp đổ của đế chế Lehman Brothers, cùng khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009. Bước sang năm 2010, tuy ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tạm lắng nhưng vẫn còn tiểm ẩn nhiều biến động, điển hình là khủng hoảng nợ công của Hi Lạp, các nước Châu Âu như Tây Ban Nha, Ý và Bồ Đào Nha cũng đang đứng trước nguy cơ tương tự và bong bóng tài sản ở Trung Quốc.

         Trong các thể chế tài chính, thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi phản ánh một cách rõ ràng nhất những biến động của nền kinh tế, chính vì vậy việc am hiểu tình hình kinh tế là rất quan trong, giúp nhà đầu tư có chiến lược đúng đắn. Việt Nam thuộc nhóm các nước đang phát triển, mặc dù không bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự sụp đổ của hệ thống tài chính thế giới, nhưng với việc gia nhập WTO, trở thành một phần không thể tách rời của kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn phải chịu những hậu quả gián tiếp nặng nề từ suy thoái kinh tế. Mọi biến động của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có mối tương quan chặt chẽ với biến động kinh tế thế giới. TTCK Việt Nam cũng luôn song hành cùng với những thay đổi của nền kinh tế trong nước và quốc tế.

Kinh tế thế giới: liệu có trượt sâu trong suy thoái?


Diễn giả: Ông Hiroki Shimazu, Chuyên gia kinh tế cao cấp Ngân hàng Đầu tư  Nikko Cordial


        “Thời kỳ “đen tối” nhất của kinh tế thế giới gần như đã lùi lại đằng sau. Mặc dù còn nhiều lo ngại, nhưng sự hồi phục kinh tế đang được hỗ trợ bởi chính sách tiền tệ và tài khóa thông thoáng hơn. Những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển sẽ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Chiến lược “hiện thực hoá lợi nhuận” đã và đang được áp dụng sớm ở các nền kinh tế phát triển là một trong những rủi ro cho nền kinh tế toàn cầu.

Mặc dù thời kỳ đen tối nhất đã lùi lại đằng sau, nhưng nhà đầu tư vẫn còn lo ngại. Điều này thể hiện ở việc: tăng trưởng kinh tế chậm ở Mỹ; sức cầu từ doanh nghiệp tăng trưởng mạnh hơn và yếu hơn từ các hộ gia đình; tăng trưởng kinh tế Mỹ không còn được hỗ trợ bởi việc điều chỉnh hàng tồn kho, chu kỳ kinh doanh có xu hướng dài hơn chu  kỳ hàng tồn kho và GDP được kéo bởi việc đầu tư vào nhà ở trong ngắn hạn

        Các điều kiện thuận lợi được duy trì, đặc biệt với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Chính sách tiền tệ thông thoáng hơn ở các nước phát triển có khả năng lan rộng ra toàn cầu và bù đắp cho chính sách thắt chặt ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

Mặc dù các nền kinh tế Châu Âu bắt đầu thắt chặt chính sách tài khóa, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vẫn cần tiếp tục dùng nguồn lực trong nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Sự phát triển của tầng lớp trung lưu và thượng lưu ở các nền kinh tế thứ 3 cũng là một yếu tố tích cực.

         Tốc độ tăng trưởng tại các nền kinh tế thứ cấp cao hơn ở các nền kinh tế cao cấp. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tiếp tục đóng vai trò quan trọng hơn. Sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu càng thuận lợi hơn với khu vực đồng tiền chung Châu Âu. Tuy nhiên, việc“hiện thực hóa lợi nhuận” sớm làm giảm tính thanh khoản là một rủi ro với sự hồi phục kinh tế toàn cầu”.

Châu Á chuyển động tích cực với nguồn lực mới


Diễn giả: Ông Seiji Kawazoe – Chuyên gia kinh tế Ngân hàng Sumitomo

        “Có thể nói, kinh tế thế giới hiện nay xuất hiện 3 nguồn lực mới. Thứ nhất, nền kinh tế các nước châu Á tiếp tục tăng trưởng mạnh trong khi các thị trường phát triển như Mỹ, châu Âu, Nhật lại có sức bật yếu hơn. Với môi trường lãi suất tích cực, xu thế này có thể  sẽ còn tiếp tục được duy trì  trong thời gian tới. 

        Thứ hai, bên cạnh Nhật Bản, Trung Quốc đã trở thành một “quyền lực” mới ở châu Á. Hiện nay, Nhật đã và đang tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và điều này sẽ khiến cho trao đổi mậu dịch liên khu vực rất có thể sẽ tăng trong thời gian tới. Các nước châu Âu chủ yếu hoạt động mậu dịch nội khối.

        Thứ ba, phần doanh thu từ nước ngoài tiếp tục tăng trong khu vực sản xuất. Xuất khẩu sang các nước châu á tăng trong những năm gần đây. Các nhà xuất khẩu Nhật có lợi từ sự tăng trưởng mạnh của châu Á.

        Chính những nguồn lực mới này đã tạo ra những chuyển biến đáng kể. Động lực chính của sự phát triển kinh tế chung là sự hình thành vốn. Ban đầu từ ODA và FDI, gần đây từ cả chi tiêu vốn công cộng và vốn tư nhân. Trung Quốc đang trở thành một trong nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của châu Á. Nhưng chúng ta hi vọng rằng từ một nền kinh tệ dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, Trung Quốc sẽ dần chuyển sang một nền kinh tế với người tiêu dung làm động lực thúc đẩy chính.

        Việc hình thành vốn/ đầu tư của Nhật Bản sẽ tiếp tục vào Việt Nam và Nhật vẫn được khẳng định là một trong những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. Trong 10 năm (1998-2008) với số vốn đầu tư của các nhà đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam đạt 17.362 triệu USD, xếp thứ 3, chỉ sau Đài Loan và Malayxia. Do đó, Việt Nam vẫn tiếp tục là điểm đến đầu tư, bởi có nhiều lợi thế như: nền chính trị ổn định, tiềm năng phát triển và nguồn nhân lực khá dồi dào.

        Các nhà đầu tư Nhật Bản cho rằng Việt Nam cần có cái nhìn dài hạn hơn về đầu tư. Với 5 lợi thế nổi bật như: nguồn lao động trẻ, cần cù, và cầu tiến; nền chính trị, xã hội ổn định; hướng tới chính sách mở cửa đầu tư; vị trí địa lý thuận lợi; mật độ dân số đông, Việt Nam có triển vọng trở thành một nền kinh tế tăng trưởng hữu cơ trong tương lai. Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần cải thiện hơn nữa những bất lợi như: thay đổi trong quy định, chính sách nhà nước; các dịch vụ tiện ích (đặc biệt là điện); hoạt động kinh doanh; thiếu các ngành công nghiệp hạ nguồn; lao động lành nghề còn hạn chế và tính cạnh tranh trong khu vực.

         FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất, gần đây, các ngành dịch vụ như bán lẻ và dịch vụ tài chính cũng bắt đầu thu hút FDI.  Sự cải tiến này sẽ giúp cho dòng vốn FDI chảy mạnh hơn vào Việt Nam”.

Châu Á dẫn đầu phát triển trong sự suy thoái toàn cầu


Diễn giả: Ông Prasenjit K.Basu- Kinh tế trưởng Ngân hàng Đầu tư  Daiwa

        “Cả ISM và OECD CLI đều dự đoán xuất khẩu châu Á năm 2010 sẽ tăng mạnh nhất trong 20 năm qua do cầu nội bộ trong các nước đang phát triển sẽ kích thích cầu xuất khẩu của khu vực. Với các đơn đặt hàng của ISM tăng mạnh trong nửa đầu năm 2010 (và hàng tồn kho Mỹ thấp), chúng tôi dự đoán xuất khẩu của châu Á vào Mỹ tính đến hết năm sẽ tăng 15-20%, sau đó sẽ chậm lại vào đầu năm 2011. Trong năm 2010, nhập khẩu của châu Á được dự đoán sẽ tăng nhanh hơn xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu trong nội bộ châu Á và đảm bảo khả năng tăng tốc mạnh mẽ của GDP thực tế. Tốc độ tăng trưởng trong năm 2011 sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào nhu cầu trong nước và xuất khẩu sẽ dựa chủ yếu vào nhu cầu nội bộ trong các nước đang phát triển.

        Châu Á không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế của các nước thành viên OECD, nhưng với lượng xuất khẩu tới các nước đang phát triển tăng, sự phụ thuộc vào thị trường OECD đã giảm đáng kể. Về trung hạn, châu Á sẽ bị tác động bởi nhu cầu yếu của các nước OECD, nhưng châu Á (9 nước) chỉ xuất khẩu khoảng 30% vào thị trường OECD, trong khi 60,3% xuất khẩu trong châu Á (bao gồm Nhật), và gần 75% tới các nước đang phát triển ngoài OECD. Trung Quốc phụ thuộc nhiều hơn vào OECD, nhưng xuất khẩu tới các nước ngoài OECD cũng chiếm tới hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Với thặng dư tài khoản vãng lai lớn như hiện nay, chúng tôi tin rằng châu Á có nhiều tiềm năng thúc đẩy nhu cầu trong khu vực trong năm 2010 và những năm tiếp theo.

        Rủi ro của châu Âu tiếp tục tới cuối năm 2011; rủi ro đạo đức giảm nhờ điều kiện của IMF. Chúng tôi tin rằng châu Á sẽ ít bị tác động bởi EU qua con đường nợ bên ngoài, vì bảy nền kinh tế châu Á - Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Hồng Kong, Đài Loan, Thái Lan - là chủ nợ ròng của thế giới. Phần còn lại của châu Á có dự trữ ngọai tệ vượt quá nợ ngắn hạn bên ngoài.  

        Ngành IT có thể sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2010 sau 9 năm trì trệ. Đơn đặt hàng các sản phẩm công nghệ thông tin (IT) mới của Mỹ là những chỉ số báo trước về nhập khẩu của Mỹ từ 6 nước châu Á có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu IT (Singapore, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Hàn Quốc ). Những đơn đặt hàng IT của Mỹ  đã xuống tới mức thấp nhất-  thấp hơn 30% so với năm 2000-  và chúng tôi dự đoán lượng hàng tồn kho thấp sẽ làm tăng đơn đặt hàng mới. Việc tăng nhu cầu của Mỹ đã góp phần tích cực vào sự hồi phục kinh tế trong hai quý vừa qua. Năm 2009 đã xảy ra một cuộc điều chỉnh hàng tồn trữ lớn, điều này đã làm  kéo dài cuộc khủng hoảng tín dụng. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng ngành IT đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực.

        Việt Nam đạt mức tăng GDP nhanh trong quý IV/2009 và quý II/2010, làm tăng mạnh thâm hụt kép. Các kích thích tài chính (trong năm 2009) được thực hiện với mục tiêu đạt 8,7% tổng GDP. Thâm hụt thương mại lớn trong nửa cuối năm 2009 và nửa đầu 2010 cùng với tình trạng lạm phát cao dẫn đến sự cần thiết phải giảm các chính sách kích thích tài chính như việc giảm giá trị Đồng (giảm4% trong tháng 11/2009 và 1% trong tháng 2/2010) và tăng lãi suất.

        Tình trạng vay nợ tăng mạnh tại Việt Nam có ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, các kích thích tài chính làm tăng thâm hụt tới 9% GDP. Tổng tín dụng ước tính tăng 38% trong năm 2009, nhanh hơn nhiều so với 27% tốc độ tăng tiền gửi - do đó đẩy tỷ lệ cho vay trên tiền gửi tới khoảng 150%. Tỷ lệ tăng tín dụng giảm còn 10,3% trong tháng 6/2010, nhưng mục tiêu 25% vào năm 2010 là quá cao. Chính sách tài khóa thắt chặt vào nửa cuối năm 2008 đóng vai trò trọng yếu trong việc kiềm chế áp lực của thị trường đang quá nóng, nhưng những kích thích mới sau đó đã giúp chống lại sự suy thoái toàn cầu – bao gồm sự cắt giảm 30% thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 4% hỗ trợ lãi suất cho một số khoản vay, và tăng chi phí cơ sở hạ tầng. Chúng tôi cho rằng việc cắt hỗ trợ lãi suất trong tháng 3/2010 là đúng đắn (tuy nhiên sẽ có thể đạt hiệu quả cao hơn bằng việc tăng lãi suất cơ bản).

        Việt Nam vẫn là điểm đến tiềm năng của các MNCs, đặc biệt là MNCs châu Á, và chúng tôi cho rằng những bất lợi về kinh tế vĩ mô không làm mất đi tính hấp dẫn của thị trường này. Dòng vốn FDI nhanh chóng hồi phục trong quý 2-3 năm 2009 (trên 10% GDP), chúng tôi dự đoán tỷ lệ này sẽ ổn định ở 8%-10% GDP trong trung hạn và đây sẽ là một nguồn hỗ trợ cân bằng đối ngoại quan trọng.

         Đầu tư chứng khoán từ nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng đối với TTCK Việt Nam trong năm 2006-2007. Những luồng đầu tư này tiếp tục đổ vào trong năm 2008, 2009 và quý I/2010, gây ra thâm hụt cơ bản lớn trong 2008-09, mặc dù thâm hụt này đã giảm trong 2009 do luồng vốn FDI tăng trở lại. Do FDI luôn đi kèm với công nghệ và tiếp cận thị trường, dòng vốn FDI 8-10% của GDP sẽ giúp tăng năng suất và phục hồi tăng trưởng GDP thực hàng năm lên 7-8% trong trung hạn sau khi môi trường vĩ mô được ổn định lại”.

Việt Nam ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô


Diễn giả: Ông Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế trung ương

        “Các giải pháp mà Chính phủ đã thực hiện thời gian qua cho thấy rằng những tháng đầu năm 2010 là tập trung ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đánh giá của tôi, kinh tế vĩ mô Việt Nam trong 7 tháng đầu năm có cải thiện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt tăng 13%. Giá trị sản xuất công nghiệp là một chỉ tiêu rất quan trọng, đo lường được sự hồi phục nhanh hay chậm của một nền kinh tế, khi chỉ tiêu này tăng, có thể hiểu rằng kinh tế có dấu hiệu khả quan.

        Tuy có cải thiện nhưng kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều rủi ro. Theo dự báo, với mức lạm phát năm 2010, lạm phát năm 2011 sẽ cao hơn năm 2009. Những rủi ro trong kinh tế vĩ mô tôi muốn nói ở đây không chỉ là vấn đền lạm phát mà còn liên quan đến nhiều mặt như bất ổn của thị trường tài chính, thâm hụt ngân sách và một số rủi ro khác của hệ thống tài chính ngân hàng.

        Trong ngắn hạn, ổn định kinh tế vĩ mô có thể khiến tăng trưởng chậm, nhưng về lâu dài,  ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế là không có mâu thuẫn. Kinh tế vĩ mô ổn định là yếu tố quan trọng cho tăng trưởng GDP. GDP năm 2010 được dự đoán khoảng 8% nhưng tôi nghĩ  nên ở mức 6-6,5%, đứng ở góc độ chính sách sẽ điều chỉnh tốt hơn để vừa có tốc độ tăng trưởng hợp lý vừa ổn định được kinh tế vĩ mô trong lâu dài

         Rủi ro vĩ mô vẫn còn, song tôi nghĩ vẫn có thể kiếm soát được, vì như tôi đã nói Chính phủ ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô. Nhưng TTCK muốn ổn định thì phải hiểu được hành vi của kinh tế vĩ mô. Với những bất ổn kinh tế có thể gặp phải từ giờ đến cuối năm, nếu nhà đầu tư tham gia TTCK hiểu được hành vi kinh tế vĩ mô và có điều chỉnh phù hợp thì thị trường sẽ không có biến động nhiều, còn nếu không thị trường sẽ vẫn biến động như trong thời gian vừa qua”.


PSI

facebook Hot! F319
Tìm tin theo ngày   

từ khóa nổi bật